Đại quân Tống đã tiến sát biên giới, quân Đại Việt đã bày sẵn “thiên la địa võng” tiếp đón đoàn khách đến từ phương bắc. Trận huyết chiến chính thức bắt đầu!
I. Quân Tống tiến quân
Ngày 01/01/1077, Quách Quỳ sai tướng Yên Đạt đánh chiếm được Quảng Nguyên (Cao Bằng). Sau đó, Yên Đạt rút về, để lại 3.000 quân Tống tại Quảng Nguyên do tướng Khúc Chẩn nắm giữ.
Ngày 08/01/1077, Quách Quỳ mang đại quân bộ binh Tống tiến qua biên giới theo 3 hướng:
- Hướng phía Tây: quân từ Quảng Nguyên (Cao Bằng) do Khúc Chẩn chỉ huy, tiến đánh châu Môn (Thất Khê – Lạng Sơn), tiến về vùng sông Cầu
- Hướng phía Đông: quân Tống tiến đánh vùng Tô Mậu (Quảng Ninh), tiến theo sông Lục Nam đến sông Cầu
- Hướng trung tâm: do Quách Quỳ chỉ huy, có đội tiên phong đi trước, tiến theo hướng từ ải Nam Quan đến ải Chi Lăng
Đồng thời, trong thời gian này, thủy quân Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy cũng xuất phát.
Khi Quách Quỳ tiến theo đường ải Chi Lăng (vùng Lạng Sơn), phò mã Đại Việt là Thân Cảnh Phúc – thủ lĩnh dân tộc thiểu số vùng Lạng Sơn – mang quân địa phương đóng giữ các vị trí hiểm yếu chặn đánh dọc đường, có những trận dùng đến trọng binh là voi chiến đánh giáp lá cà quân Tống. Tuy nhiên, do chênh lệch quá lớn về lực lượng, Thân Cảnh Phúc rút lui chiến thuật vào rừng để bảo toàn lực lượng, chuyển sang phương pháp đánh du kích tập hậu quân Tống.
Lực lượng của Thân Cảnh Phúc làm tốt nhiệm vụ tiêu hao sinh lực, kéo dài thời gian giúp Lý Thường Kiệt gia cố tuyến phòng thủ sông Như Nguyệt, tiếp tục trở thành đạo quân du kích tập hậu khi quân Tống khi tiến xuống phía Nam.
Đến ngày 18/1/1077 quân Quách Quỳ chiếm được Quang Lang, hướng về Thăng Long.
Các cánh quân của Quách Quỳ tiến đến sát sông Cầu, thấy lớp phòng tuyến vững chắc của Đại Việt ở bờ nam sông Cầu kiên cố, lại không có thuyền vượt sông, Quỳ chia quân đóng tại mạn bắc sông Cầu, chờ thủy quân của Dương Tùng Tiên để hợp binh qua sông.
Quân Quách Quỳ đóng tại 3 vị trí chính dọc bờ bắc sông Cầu:
- Cánh quân hữu dực (phía tây) do Miêu Lý quản lĩnh;
- Trung quân do Quách Quỳ thống lĩnh, cách cánh quân của Miêu Lý khoảng 60 dặm;
- Cánh quân tả dực (phía đông) đóng gần núi Nham Biền, được lệnh không được tiến quân, hướng mặt về phía Đông để đề phòng Thân Cảnh Phúc tập hậu.

II. Phòng tuyến sông Như Nguyệt
Phòng tuyến sông Như Nguyệt là một liên hợp giữa bộ binh đóng dọc vùng sông Cầu và thủy binh đóng vùng Vạn Kiếp
Như đã trình bày ở phần 4, phòng tuyến Như Nguyệt như một lá chắn “trời ban” cho nhà Lý để phòng thủ trước nhà Tống. Để tiện bạn đọc theo dõi, xin được trích lại nội dung về phòng tuyến trong phần 5 này
Đường di chuyển của quân Tống xuống phía Nam tiện nhất là từ trại Vĩnh Bình (Bằng Tường – Trung Quốc ngày nay) đi qua Lạng Sơn, vượt được sông Cầu là vùng đồng bằng rộng lớn, Thăng Long sẽ mở toang trước mặt. Đường này, tôi cơ hồ gần như quốc lộ 1A từ cửa khẩu Hữu Nghị, qua Lạng Sơn về Bắc Giang, qua vùng sông Như Nguyệt.

Nếu bật google map, zoom nhỏ lại để bao quát miền Bắc Việt Nam hiện nay, chỉ tính biên giới Việt – Trung đoạn từ Cao Bằng đến Quảng Ninh (từ Cao Bằng về phía Tây là biên giới giữa Đại Việt và Đại Lý) xuôi xuống Thăng Long (Hà Nội), phía Tây bị dãy núi Tam Đảo xẻ ngang, phía bên phải thì bị dãy Yên Tử chắn từ vùng Bắc Giang đến tận Biển Đông, ở giữa 2 dãy núi có khoảng 60km từ vùng Đa Phúc đến sông Lục Đầu (đường chim bay) là đất bằng có thể đi lại, nhưng đoạn này bị sông Cầu cắt ngang. Trong đoạn ấy chỉ có vùng Như Nguyệt đến núi Nham Biền là có bến, có đường qua sông .

Tại vùng phòng thủ này, Lý Thường Kiệt đã sai đắp đê phía nam cao như bức thành đất. Ngoài đê, đóng cọc tre mấy từng để làm rào chắn. Chiến thuyền đều rút về bờ Nam, sẵn-sàng đón đánh, nếu Quỳ qua sông.
Chủ lực quân Đại Việt đóng tại vùng Thiên Đức (Bắc Ninh) sẵn sàng tri viện cho các vị trí phòng thủ dọc tuyến.
Thủy quân do Lý Kế Nguyên thống suất, bao quát suốt từ vùng Vạn Xuân (Lục Đầu Giang) ra đến bở biển phía đông, sẵn sàng đón đánh thủy quân Tống, lại sẵn sàng tiến vào vùng sông Như Nguyệt để đánh quân Tống nếu vượt sông
Quả là thiên la địa võng!
III. Giằng co trên Như Nguyệt
1. Quân Tống vượt sông
Quách Quỳ vốn tính cẩn thận, thấy quân Đại Việt phòng thủ kiên cố, thủy quân chưa tới nên lâm vào thế bí, tiến thì không được mà lùi thì lại thành không công, nên thành ra quân Tống đóng cách Thăng Long có vài chục dặm mà chần chừ không tiến, án binh bất động.
Tướng nhà Tống là Miêu Lý thấy 10 vạn quân và 20 vạn dân phu đang dồn ứ ở đây, cứ kéo dài thêm thì thời tiết sắp sang xuân, mưa dầm, lam chướng không có lợi, mà khi vượt sông sẽ gặp vùng đồng băng, kỵ binh tung hoành thẳng đến Thăng Long. Nhân đó bèn xin với Quách Quỳ cho quân quyết vượt sông. Quách Quỳ thấy phòng tuyến kiên cố, lại sợ Lý Thường Kiệt nhiều mưu nên chưa dám đồng ý, nhưng thấy Miêu Lý quyết chí tấn công, mới miễn cưỡng bằng lòng.
Miêu Lý sai buộc cầu phao trước bến Như Nguyệt, rồi hẹn với tướng tiền phong Vương Tiến đem quân qua sông trước. Quân Tống vượt sông trong đêm, dùng bè chở 500 quân tinh nhuệ qua sông trước, số còn lại độ 1.000 quân qua cầu phao.
Quân nhà Lý bất ngờ bắn tên lửa như mưa vào cầu phao và xuống bè, nhiều lính trúng tên chết rơi xuống sông, Vương Tiến lệnh cho quân che khiên xông lên, toán quân cập bờ gặp phải hàng rào tre, lệnh vừa chặt vừa đốt, nhưng tre to, không phá nổi mấy trại bằng tre của quân Việt.
Tên bắn như mưa, chèo bè không thể trở về để mang thêm quân tiếp cứu, số quân Tống vừa qua sông bị quân Việt hợp binh lại bắt và giết đến gần 300, quân Tống không được cứu, hoặc chết hoặc chạy trốn, cuối cùng không thành công. Vương Tiến thấy thế, sợ quân Lý dùng cầu qua bắc ngạn, vội sai quân cắt đứt cầu, nhiều lính chưa kịp quay về, bị rơi xuống sông chết đuối.
Vương Tiến điểm binh vượt được sông, thấy còn hơn 500 quân tinh nhuệ, bèn lệnh tiến gấp về phía Thăng Long. Có kẻ chỉ cách kinh đô chừng 15 dặm. Cánh quân này bị quân Đại Việt vây đón đánh kịch liệt chết đến 300 quân.
Triệu Tiết thấy vậy, sợ không cứu thì lòng quân bất phục, bèn lệnh viện binh phải chèo bè sang tiếp cứu. Nhưng sắp đổ bộ, thì tên bắn, lao phóng như mưa, không đổ bộ được. Thế quân bị đứt. Quách Quỳ phải ra lệnh gọi bọn Miêu Lý trở về.
Đợt vượt sông của quân Tống thảm bại cũng chính là một đợt kiểm chứng sự vững chãi, lợi hại của phòng tuyến do quân Việt phòng thủ.
Quách Quỳ nhận thất bại, bắt tội định chém Miêu Lý đã trái lệnh trên. Lý trả lời rằng Quỳ đã cho phép sang sông. Triệu Tiết cũng xin hộ. Cho nên Lý mới được tha.
Ngay sau đó, đạo quân thủy tiến từ phía đông đến, quân Quách Quỳ tưởng thủy quân Tống đến nên hò hét vui mừng, nhìn kỹ ra thì là thủy quân Đại Việt đi từ Vạn Kiếp đến để khiêu khích, chửi bới, toàn quân lại càng nhụt trí, kế ấy của Lý Thường Kiệt thật hiểm.
Từ đó trở đi, Quách Quỳ lại càng thận trọng, trong quân cũng tuyệt nhiên không ai dám đòi vượt sông nữa: “ai bàn đánh sẽ bị chém”.
Tỷ số tạm thời 1-0 nghiêng về Đại Việt!
2. Quân Việt vượt sông
Quân Lý tuy giữ thế phòng thủ chủ động nhưng cũng nhiều lần đem quân khiêu chiến nhằm dụ quân Tống xuất quân để tiêu diệt, nhưng quân Tống cũng nhất quyết giữ bờ bắc, dùng máy bắn đá của Triệu Tiết để phòng thủ chứ nhất quyết không xuất chiến. Hai bên ở thế giằng co rất lâu.
Có một viên quan là Tống là Miêu Thì Trung bày kế với Yên Đạt và Quách Quỳ rằng: quân Tống không tiến đánh, thì chắc rằng quân Đại Việt sẽ đi đường tắt tới đánh lúc quân Tống không phòng bị, chi bằng quân Tống tương kế tựu kế, vờ tạo một vùng phòng ngự yếu để dụ quân Đại Việt sang đánh, từ đó đánh bại, hễ Đại Việt có thua, thế cùng rồi mới chịu hàng.
Đích thân Quách Quỳ mang quân đi xem xét địa thế, tìm được một khúc sông Cầu gần núi Nham Biền (sử ghi là sông Khâu Túc) có thể dùng được kế, bèn rút 5.000 quân đến đó, phao tin là chuẩn bị rút quân về nước.
Quân Lý nghe được tin quân Tống rút lui, bèn nghĩ rằng thời cơ đã đến, bèn sai hai hoàng tử là Hồng Chân và Chiêu Văn đem vài vạn thủy quân và 400 chiến thuyền đến đánh. Quân Tống rút lui chiến thuật, quân Việt đổ bộ lên đánh. Ban đầu quân của Tống cũng bất ngờ với sức chiến đấu của quân Việt nên tiền quân thua to, bị chém mấy nghìn người, đích thân Quách Quỳ và Yên Đạt phải dẫn quân đến cứu.
Càng truy đuổi quân Tống, quân Việt càng tiến sâu vào vùng đất bằng phẳng vùng núi Nham Biền, quân Tống dốc sức đánh trả, mấy vạn kỵ binh Tống trứ danh được dịp tung hoành, quân Việt rối loạn, rút lui, lại tranh nhau qua sông, chết rất nhiều (sử Tống ghi là sông chảy mấy ngày không hết xác).
Quân Lý sang ứng cứu bị máy bắn đá của Triệu Tiết nã như mưa, thuyền đắm nhiều. Hoàng tử Hồng Chân và Chiêu Văn cùng chìm với thuyền trong đợt tấn công này, tướng Nguyễn Căn của Đại Việt bị bắt sống.
Triệu Tiết, Yên Đạt, bàn rằng từ Như Nguyệt đến Thăng Long chỉ mấy chục dặm đất bằng, thừa thắng muốn đem quân qua sông tấn công, nhưng Quách Quỳ vẫn rất cẩn thận, trên bờ quân Tống mạnh, nhưng không có thuyền chiến, xuống nước gặp quân Lý chẳng khác nào gặp Giao Long, nên bỏ ý đấy, hai bên lại bờ ai người ấy giữ.
Trận này, dù là người Việt Nam nhưng tôi cũng không thể không khen quân Tống có mưu hiểm, lại có kỵ binh trác tuyệt, phối hợp quân nhịp nhàng để tạo nên trận đánh hay, chấm 2 điểm cho nhà Tống.
Tỷ số tạm thời 2-1 nghiêng về nhà Tống!
Trận này cho chúng ta thấy rõ, sức mạnh của quân Tống nếu được đặt ở vùng đồng bằng thì sẽ khủng khiếp đến như thế nào và cũng thấy rõ việc phòng thủ ở sông Như Nguyệt của nhà Lý là đúng đắn.
IV. Thủy chiến Đông Kênh
Mấu chốt Quách Quỳ không dám sang sông là chưa có thủy quân, vậy thủy quân Tống do Dương Tùng Tiên chỉ huy, giai đoạn này đang “lang thang” ở đâu?
Thì ra khi xuất quân, thủy quân Tống không có tin tức gì của quân Quách Quỳ, nên chưa dám vào sâu, bèn cho một đạo đi tới vùng biên giới Đại Việt và Chiêm Thành để thám thính và dụ Chiêm Thành khởi binh cùng đánh Đại Việt. Nhưng vua Chiêm lại thấy 7.000 quân Chiêm đang chặn tại các đường biên giới, tuy có nhận được thư của vua Chiêm nhưng lại không biết đọc, nên cũng không dám tiến tiếp, kế hợp binh bèn thôi.
Khi thủy quân Tống tiến vào Đông Kênh, liền gặp thủy quân Việt, đánh nhau hơn mười trận lớn nhỏ, lính chết và bị thương nhiều, lại nhờ trận thua trên sông Bạch Đằng năm xưa, bèn án binh không tiến chờ tin Quách Quỳ.
Không rõ thủy quân Tống và Việt giao chiến như thế nào, nhưng sử ghi rằng, thủy quân Tống đến ngày 20/4/1077 về đến đất Tống, quân đi 10 phần thì khi về còn 2,3 phần. Dương Tùng Tiên bị bắt bỏ ngục. Thật là thua tơi tả.
Về trận thủy chiến Đông Kênh này chúng ta thấy rằng thủy quân Việt đúng là Giao Long dưới nước, ngoài việc khiến thủy quân Tống thua thảm hại, còn cơ động hỗ trợ phòng thủ sông Như Nguyệt, án ngữ cắt đứt liên lạc giữa bộ binh và thủy binh Tống.
Chiến thắng Đông Kênh làm phá sản hoàn toàn kế hoạch vượt sông của Quách Quỳ, khiến quân Tống dù kỵ binh mạnh như vũ bão nhưng chẳng thể có chỗ thi thố, đúng như hổ xuống sông bắt cá, cá sấu lên rừng tìm thỏ.

Với chiến thắng này tỉ số cân bằng 2-2 cho quân Tống và Việt.
V. Nam Quốc Sơn Hà
Quân Tống bị quân Việt kìm chân ở sông Như Nguyệt đã 40 ngày mà không tiến thêm được nửa mét. Giữa 2 bờ Như Nguyệt, hàng đêm đều vọng lên tiếng nói sang sảng như tiếng thần minh, đọc đi đọc lại một bài thơ:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Lòng quân Việt nghe thế lại càng vững chí quyết thủ vững sông Như Nguyệt, quân Tống lại càng nao núng tinh thần, làm Quách Quỳ quyết chí không vượt sông.
Sự cẩn thận của Quách Quỳ giúp quân Tống bảo toàn lực lượng, nhưng 10 vạn quân, 20 vạn phu phen tụ về một nơi, ăn uống, chất thải hàng ngày không biết bao nhiêu, lương cạn dần, lại mất vệ sinh, dịch bệnh nhiều, trời lại sắp mưa dầm, cứ như vậy rồi cùng chết đói chết bệnh với nhau.
Biết được đây là thời cơ “không đánh mà thắng”, Lý Thường Kiệt tâu lên Lý Nhân Tông chủ ý có tầm viễn kiến:
“Quân Tống từ xa đến, lương thảo cạn, mùa hạ sắp tới, không phải là sở trường của lính kỵ binh phương bắc, nếu đợi lâu rồi đánh, ắt thắng, nhưng nhà Tống sẽ bẽ mặt, lại đem quân xuống, thì liên miên chiến trận, đó là điều không hay. Nay xin cử người giỏi biện bạch đến chỗ quân Tống để bàn hòa. Không nên làm khó nhọc tướng tá, khỏi tốn máu xương binh lính, mà gìn giữ được Tông Miếu”
Vua Lý Nhân Tông đồng ý và cử sứ giả là Kiều Văn Ứng tới gặp Quách Quỳ, mang theo thư khuyên Quách Quỳ rút quân, nhưng nói là xin hàng, và nói chỉ cần Quách Quỳ rút quân về, sẽ cử ngay sứ sang nhận tội với Thiên Triều, lại giữ lệ triều cống như cũ, lại trả lại các vùng đất như Tô, Mậu, Tư Lang, Môn Lạng, Quảng Nguyên và tù nhân bị bắt để thêm phần thuyết phục.
Quách Quỳ đem chuyện thư “xin hàng” của phía Đại Việt, bàn với thuộc cấp rằng nếu rút quân thì thật phụ lòng Thiên Tử, muốn dốc quân đánh một trận. Yên Đạt liền can rằng: lương thảo đã cạn, lúc ra đi, quân có 10 vạn, phu có 20 vạn. Vì nóng nực và lam chướng, nay quân lính, dân phu đã chết quá nửa rồi. Còn non nửa, cũng đều đang ốm cả.
Quách Quỳ thấy vậy liền than rằng: “Ta không có khả năng tiêu diệt được sào huyệt giặc, bắt tù Càn Đức (ý nói Lý Nhân Tông) để báo đáp ân của Triều đình, ấy là do ý Trời. Nguyện lấy một thân này để chịu tội, cứu lấy 10 vạn sinh mạng”. Bèn gửi biểu “xin hàng” của vua Lý Nhân Tông lên vua Tống, rồi sắp đặt rút quân.
Quả là một màn diễn hết sức nội tâm.
Quách Quỳ bày sắp quân chặn hậu, rồi từ từ rút quân về nước, kết thúc cuộc hành quân gian nan của quân Tống vào đất Việt.
Đến ngày 17/03/1077 thư “xin hàng” và tin Quách Quỳ rút quân đến tai, vua Tống nổi giận, muốn đem ngay 30 vạn quân tăng viện để quyết đánh đến cùng. Nhưng với lá thư xin hàng và lời hứa cắt đất, tiếp tục triều cống, quần thần đứng đầu là tể tướng Ngô Sung vốn chủ hòa, ra súc can ngăn, nói đủ mọi nhẽ, lại còn dâng biểu mừng công chiến thắng… khiến vua Tống cũng nguôi ngoai mà đồng ý rút quân.
VI. Tổng kết
Sự rút quân của Quách Quỳ đánh dấu chiến thắng cả về mặt chiến lược, chiến thuật và nghệ thuật quân sự phòng thủ của Đại Việt. Đây là chiến thắng thứ hai của quân dân ta trước quân Tống (lần đầu diễn ra năm 981), làm tan vỡ hoàn toàn ý định thôn tính nước ta trở lại thành quận huyện như thời Bắc thuộc.
Tình hình phía quân Tống sau chận chiến:
Sau khi rút quân về nước, ngày 13/04/1076 vua Tống yêu cầu kiểm kê lại quân số thì mới thấy tổn thất thật kinh khủng:
- Số lính lúc đi là 115.000 quân (bao gồm cả thủy quân), số lính về được (gồm cả lính bị thương) là: 49.506 người, lúc về trừ đi số chết vì bệnh, bị thương, chết tiếp khi về đến nhà, còn 23.400 người (khỏe mạnh)
- Số ngựa lúc đi: 9.078 con, lúc về còn 4.690 con, sau đó chết thêm, còn lại 3.174 con khỏe mạnh.
- Số tiền chi phí tổng cộng: 5.190.000 lượng vàng. (Tính 1 lượng là 1 cây vàng, thì số tiền khủng khiếp, khoảng 8 trăm triệu tỉ đồng @@).
- Ngoài bốn trại Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long, và bốn
thành Khâm, Liêm, Bạch và Ung bị tàn phá gần hết, mất vài năm chưa khôi
phục lại được.
Quách Quỳ sau khi về nước bị vua nghi kỵ, giáng chức và cho về an trí (nghỉ hưu non).
Tình hình phía Đại Việt sau trận chiến:
Đây tuy là trận thắng lớn giúp nước ta thời Lý tiếp tục giữ được sự ổn định, căn cơ vững vàng, do kinh thành và Tông Miếu (vùng Từ Sơn) vẫn nguyên vẹn, vùng đồng bằng phì nhiêu không bị ảnh hưởng. Nhưng cũng tổn thất về cả người và của, một số vùng đất đang bị quân Tống chiếm giữ, cần phải đòi. Vẫn còn một trận chiến trên mặt trận ngoại giao phải chiến đấu.
Mời các bạn đón xem phần tiếp theo để biết vua tôi nhà Lý đã đòi lại những vùng đất mà nhà Tống chiếm được như thế nào nhé.
