1. Thế nào là vua
Vua là một khái niệm chung, chỉ người đứng đầu một nhà nước quân chủ. Vua còn được gọi chung là “quốc quân”, “quốc chủ”. Danh xưng của các vị quân chủ ở các nước có thể khác nhau như: quốc vương, hoàng đế, nữ hoàng, công tước, nữ vương… Thời hiện đại ngày nay vẫn còn nhiều nước theo chế độ quân chủ (lập hiến), với những danh xưng khác nhau. Nước Anh vua vừa qua đời là nữ vương Elizabeth II (Queen), vua hiện tại là quốc vương (King) Charles III. Nhật Bản, một nước “đồng văn” với Việt Nam vẫn còn vua với danh xưng Thiên Hoàng hay Hoàng Đế. Monaco – một quốc gia ở châu âu, có vua là một “đại công tước”…
Tóm lại, vua là người đứng đầu quốc gia theo chế độ quân chủ, là một khái niệm chung, không phải là một tước vị, và không dùng để so sánh.
2. Phân biệt quốc vương và hoàng đế theo quan điểm phương Tây.
Từ điển cambridge định nghĩa:
- Quốc vương (hoặc nữ vương) là người cai trị một quốc gia: a male (female) ruler of a country.
- Hoàng đế (nữ hoàng) là người cai trị một đế chế: a male (female) ruler of an empire.
- Đế chế (emprire) là một nhóm các quốc gia được cai trị bởi một người duy nhất: a group of contries ruled by a single person.
Rõ ràng phương Tây cũng quan niệm hoàng đế là một tước vị cao hơn quốc vương. Hoàng đế là vua của các vị vua.
Trong quan điểm Đông Á, sự phân biệt hoàng đế và quốc vương cũng có điểm chung với phương Tây, nhưng mang đậm tư tưởng triết học phương Đông và có phần khó nhớ.
Những phần sau đây sẽ giải thích những khái niệm “loằng ngoằng” về hoàng đế và quốc vương trong quan điểm Đông Á. Từ đây về sau, mình chỉ nói đến các nước Đông Á nhé các bạn!
3. Định nghĩa “đế – vương”.
Để phân biệt về Vương và Đế phải kể một câu chuyện rất dài, tính thời đại thì đến cả ngàn năm, mình xin tóm tắt hết sức khái quát như sau:
Từ xưa, vua Trung Quốc đã tự coi mình là con trời, là “thiên tử“,ấy danh nghĩa thờ trời, trị dân, mà người dân thời xưa có ai dám cãi lại trời đâu. Chắc các bạn cũng xem phim cổ trang Trung Quốc và quen với câu “phụng thiên thừa vận” ở trong “thánh chỉ” phải không, đó chính là thể hiện là ý “thừa lệnh của trời” của nhà vua.
Trước đây, các triều đại Trung Quốc nối tiếp nhau là Hạ – Thương – Chu trải đến hai ngàn năm, thiên tử tự xưng là Vương (王). Trong gầm trời này chỉ có 1 người là Vương, chính là thiên tử. Đến thời nhà Chu bắt đầu từ Chu Vũ Vương – Chu Văn Vương (Hồi nhỏ mình có xem phim Đắc Kỷ – Trụ Vương, phim mà có Na – Tra, Lôi Trấn Tử, Dương Tiễn ba mắt… chính là bắt đầu của nhà Chu đấy), thiên tử chia nhỏ đất nước thành các nước “chư hầu” và cho con cháu, họ hàng, người có công đến làm vua các nước nhỏ đấy, các nước chư hầu thay thiên tử cai trị vùng đất của mình và phải cống nạp phẩm vật. Vua các nước chư hầu không mang tước Vương mà chỉ là các tước vị nhỏ hơn như Công – Hầu – Bá – Tử – Nam. Thiên tử giữ vùng đất màu mỡ, đông đúc hơn cả, có quân đội mạnh hơn cả, sẵn sàng giải quyết khi có tranh chấp giữa các chư hầu, hay mang quân tiến đánh bất cứ nước nào chống lại mình.

Nhưng biến cố xảy ra, khoảng những năm 700 TCN, Kinh Đô của nhà Chu bị tộc nhung khuyển tràn vào đánh phá, thiên tử thua phải dời đô về phía Đông, từ đây vị thế suy yếu, mất dần quyền lực. Các nước chư hầu thừa thế nổi lên, đánh chiếm lẫn nhau. Vua các nước chư hầu dần lớn mạnh, lãnh thổ mở rộng, họ tự thấy mình cũng ngang hàng với thiên tử nên đều đồng loạt “xưng vương”. Từ đây có vô số “vương” trong thiên hạ. Vị trí độc tôn của vị “vương thiên tử” không còn.

Cuối cùng nước Tần – 1 trong các nước chư hầu – đã thôn tính tất cả các nước khác, thống nhất thiên hạ, thành lập Đại Tần Đế Quốc năm 221 TCN với vị vua đầu tiên là Tần Vương – Doanh Chính.
Tự thấy võ công thống nhất thiên hạ của mình hiển hách xưa nay chưa từng có, Tần Vương – Doanh Chính nghĩ bây giờ ta đỉnh của chóp như thế, thì nên danh xưng thế nào cho đẳng cấp, vì mình đã đánh thắng bao nhiêu “vương” rồi, mà giờ cũng xưng là Vương thì phèn phụa quá. Tần Vương tự thấy công lao của mình còn cao hơn Tam Hoàng – Ngũ Đế, nên xưng là “hoàng đế“, gọi là Thủy Hoàng Đế. Ngày nay chúng ta vẫn biết đến tên Tần Thủy Hoàng, chính là ông này ((quá nổi tiếng, nếu ai từng xem phim Thần Thoại của Thành Long thì chắc chắn có nghe qua danh tiếng vị vua này)
Từ đây danh xưng “hoàng đế” ra đời.
Chuyện trên không phải mình bịa ra đâu, chuyện này được ghi lại trong “Sử Ký Tư Mã Thiên”, mình xin trích dẫn để các bạn đọc được kỹ càng hơn:
“Quả nhân (xưa các quốc vương xưng là Quả nhân :D), một người nhỏ bé hưng binh trừ khử bọn bạo nghịch làm loạn. Nhờ uy linh của tôn miếu, sáu nước đều chịu tội thiên hạ bình định.Nay nếu không thay đổi danh hiệu thì không sao xứng với cái công lao đã làm được và truyền cho đời sau. Các ngươi hãy bàn nên đặt hiệu đế như thế nào.”
Trích Sử ký Tư Mã Thiên
Thừa tướng là Vương Quán, ngự sử đại phu Phùng Kiếp, đình úy Lý Tư đều tâu: – Ngũ Đế ngày xưa đất chỉ vuông ngàn dặm, ngoài ra là đất đai của chư hầu và của man di, họ vào chầu hay không thiên tử cũng không cai quản được. Nay bệ hạ dấy nghĩa binh, giết bọn tàn ác và nghịch tặc, bình định được thiên hạ, bốn biển thành quận và huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất ở một nơi, từ thượng cổ đến nay chưa hề có, Ngũ đế đều không bằng. Bọn thần sau khi bàn bạc kỹ lưỡng với các bậc sĩ thấy rằng: Ngày xưa có Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Thái Hoàng, nhưng Thái Hoàng là cao quý nhất. Bọn thần liều chết xin dâng tôn hiệu của nhà vua là “Thái Hoàng”, mệnh ban ra gọi là “chế”, lệnh ban ra gọi là “chiếu”, thiên tử tự xưng gọi là “trẫm“
…
Nhà vua nói: – Ta bỏ chữ “Thái”, lấy chữ “Hoàng”, thêm chữ “Đế”, của những vị đế thời thượng cổ hiệu gọi là Hoàng Đế còn những điều khác thì như lời các khanh tâu.”

4. Hoàng đế khác quốc vương như thế nào?
Theo quan điểm các nước Đông Á, dưới gầm trời này chỉ có một người là thiên tử, chính là hoàng đế. Vị hoàng đế này chính là vua của ông béo Trung Quốc. Hoàng đế cai trị ở trung tâm thiên hạ, lấy đức giáo hóa 4 phương. hoàng đế là duy nhất, là độc tôn, và tất cả quốc gia khác phải thần phục. Đất đai trong thiên hạ này đều là của “hoàng đế“. Hoàng đế được quyền ủy nhiệm cho các chư hầu cai trị các vùng đất xa xôi, phên dậu. Người đứng đầu các nước “phên dậu” này thường sẽ được “thiên tử” phong tước “quốc vương”. Các vua nước Việt Nam ta thời xưa, tước vị cao nhất được các vua Trung Quốc phong cho là tước quốc vương. Nhật Bản, Triều Tiên cũng thế. (thực ra còn một nước nữa là nước Lưu Cầu, nhưng bị Nhật sáp nhập rồi, nên không bàn đến nữa).
Hoàng đế có những đặc quyền mà quốc vương không được phép làm:
- Quốc vương không được dùng danh xưng hoàng đế (kể cả lúc sống hay chết), best nhất thì cũng đến Đại Vương là hết phim.
- Quốc vương phải được hoàng đế sách phong thì mới coi như được công nhận trị vì một nước
- Quốc vương khi có bất cứ sự kiện chính trị lớn nào như đặt Quốc Hiệu, truyền ngôi, động binh đánh nước khác… đều phải hỏi hoàng đế. Ok thì mới được làm
- Quốc vương phải triều cống phẩm vật cho hoàng Đế, tùy lệ 1 năm hay 3 năm… cái này thì đàm phán được. Triều cống là lệ thể hiện sự thần phục.
- Quốc vương khi viết tấu chương cho hoàng đế thì phải xưng “thần” (thần nghĩa là bề tôi chứ không phải thần linh).
- Chỉ hoàng đế mới được đặt “niên hiệu” và các quốc vương phải dùng niên hiệu của hoàng đế để chỉ năm tháng trong mọi tài liệu.
- Chỉ hoàng đế mới được chính thức tế trời (vì chỉ hoàng đế là thiên tử)
- Chỉ hoàng đế mới được dùng hình rồng 5 móng, quốc vương thì 4 móng trở xuống, hoặc muốn dùng hình rồng 5 móng thì phải được hoàng đế cho phép.
- Chỉ hoàng đế mới được phong thần linh
- Chỉ hoàng đế mới được mặc sắc màu vàng (tùy thời kỳ mà màu sắc khác nhau, mình lấy màu vàng là phổ biến nhất).
- Chỉ hoàng đế mới được ban hoàng lịch (gọi là chính sóc, lịch nhà nông)
- Chỉ hoàng đế mới được xưng là “Trẫm”
Nhiều nhiều nhiều vô kể các quy tắc nữa các bạn ạ. Ngoài ra quy chế về tổ chức tang lễ, đi lại, kiệu, bề rộng bánh xe, danh xưng của gia tộc cũng phải khác nhau, kể ra thì không biết bao giờ mới hết. Nhưng có thể thấy, cũng tương tự như quan điểm phương Tây, hoàng đế là vua của các quốc vương.
5. Việt Nam – nội xưng đế, ngoại xưng vương
Người Việt ta từ xưa luôn có ý thức độc lập, tự chủ, không chịu khuất phục trước ngoại bang. Trong lịch sử phong kiến, dân tộc ta cũng là những người “bất tuân” nhất trong hệ thống chư hầu của người phương Bắc. Rất sớm, từ thời ngàn năm bị đô hộ, đã có những người thủ lĩnh các cuộc nổi dậy, sau khi giành được chính quyền, đã xưng hoàng đế. Lý Bí xưng Lý Nam Đế năm 544, Mai Thúc Loan năn 713. Đặc biệt năm 968 sau khi thống nhất 12 sứ quân, tự xưng “Đại Thắng Minh hoàng đế”. Từ nhà Đinh trở về sau, tất cả các đời vua, tất cả các triều đại đều xưng hoàng đế
Tuy xưng đế, nhưng trong việc bang giao với các triều đại Trung Quốc, vua nước ta vẫn luôn nhún nhường xưng “thần” , xưng là quốc vương, vẫn cống nạp định kỳ. Nhưng đúng là chỉ dừng lại ở mức ngoại giao thôi, vì đế quyền của các vua Trung Quốc không thể vượt qua được biên giới hai nước.
Sự thực thì các triều đại phong kiến Việt Nam cũng tự coi quốc gia của mình là trung tâm thiên hạ, cũng đặt ra các quốc gia chư hầu của riêng mình, như Chăm Pa, Chân Lạp, Ai Lao, Cao Miên, các bộ tộc biên giới…, bắt họ phải triều cống, xưng thần.
Việc này bên Trung Quốc có biết không? Đương nhiên là có, và nó là những cái cớ chính cho các cuộc xâm lược nước ta. Vì Trung Hoa rộng lớn sao có thể chấp nhận một đất nước nhỏ bé phương Nam sánh ngang hàng với mình được? Nhưng họ biết mà không làm gì được các bạn ạ. Mỗi lần mang quân sang nước ta đánh thì họ lại thua tan tành. Nên thôi đành chịu, khuất mắt trông coi, mặc dân ta nổi loạn.
Đây chính là chính sách ngoại giao “nội xưng Đế, ngoại xưng Vương” của nước ta. Bên trong xưng hoàng đế, nhưng khi giao thiệp với phương Bắc thì nhún nhường xưng là một quốc vương.
Quốc chủ nước ta tự xưng Hoàng Đế, đồng nghĩa được hưởng mọi chế độ, nghi lễ, trang phục, danh xưng… của một vị thiên tử, sánh ngang hàng với các Hoàng Đế Trung Hoa. Điều này thể hiện rất rõ qua một số hiện vật còn sót lại của các triều đại nước ta:
Hình rồng 5 móng được sử dụng trong trang phục của vua Lê Dụ Tông (1679 – 1731), được khai quật năm 1964:

Hình ảnh áo đại triều màu vàng của vua Minh Mạng (1971 – 1841):

Hay hình ảnh trang phục cổn miện 12 lưu – 12 chương của vua Khải Định (1885-1925), trang phục mà chỉ thiên tử được mặc trong các buổi tế Nam Giao:

Để làm rõ hơn việc xưng Đế của nước Việt ta là “nổi loạn”, cùng so sánh với nước đồng văn khác là Triều Tiên (Triều Tiên + Hàn Quốc). Vua nước họ chỉ dám xưng Vương, phẩm phục không được dùng màu vàng, niên hiệu cũng nhất loạt dùng của Trung Quốc.
Minh họa ảnh Triều Tiên Thái Tổ Lý Thành Quế (1335 – 1408)

Cuối cùng, mình và các bạn cùng so sánh với chân dung một số vua Trung Quốc nhé:
Minh Thành Tổ (1360-1424) sử dụng sắc vàng trong trang phục của mình:

Hán Vũ Đế (156 – 87 TCN) trong trang phục cổn miện 12 lưu – 12 chương:

6. Lời kết
Qua bài viết hôm nay, mong rằng các bạn có thể phân biệt được khái niệm về vua, quốc vương và hoàng đế khác nhau cơ bản là như thế nào, đặc biệt là trong quan niệm của các nước Đông Á. Đây là một tiền đề hết sức quan trọng để hiểu được nội dung của những kỳ tiếp theo.
Cám ơn các bạn đã dành thời gian đọc blog của mình. Chúc các bạn tuần mới làm việc hiệu quả.
Thân ái chào tạm biệt
TTDN_13/11/2022
